Chính phủ quy định chi tiết Nghị quyết số 218/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi
Ngày
20/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2025/NĐ-CP quy định chi tiết Nghị
quyết số 218/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, bao gồm: quy định về cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn,
điều kiện đảm bảo, lộ trình thực hiện phổ cập giáo dục cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi,
trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị. Nghị định này áp dụng đối với trẻ em từ 3
đến 5 tuổi, cơ sở giáo dục mầm non và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nghị định quy định về đầu
tư phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng,
đồ chơi, cụ thể: Tăng
cường nguồn lực từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương đầu tư cơ sở vật
chất. Khuyến khích thu hút các nguồn lực của xã hội đầu tư cơ sở vật chất phát
triển giáo dục mầm non. Đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non bảo
đảm đủ trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi thực hiện
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Nâng chuẩn cơ sở giáo dục
mầm non theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu thực hiện phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; Ưu tiên dành quỹ đất sạch, cho
phép chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất sang đất xây dựng cơ sở giáo dục
mầm non; tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án giáo dục mầm
non. Không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền thuê đất, tiền thuế đất đối với các
cơ sở giáo dục mầm non. Không áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở
giáo dục mầm non công lập, cơ sở giáo dục mầm non tư thục hoạt động không vì lợi
nhuận. Ưu tiên dành trụ sở cơ quan nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở
giáo dục mầm non; cho phép áp dụng hình thức cho thuê công trình thuộc sở hữu
nhà nước đối với cơ sở giáo dục mầm non tư thục; Ưu tiên đầu tư kinh phí của
trung ương và địa phương từ các chương trình, dự án bảo đảm đến năm 2030 có
100% các cơ sở giáo dục mầm non công lập, cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng
vũ trang ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc
vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo,
bãi ngang, ven biển, khu đông dân cư, địa bàn có khu, cụm công nghiệp, khu chế
xuất đủ trường lớp, bảo đảm 01 phòng học/lớp mẫu giáo, 100% phòng học kiên cố,
có đủ các phòng chức năng, thư viện trường mầm non, đủ đồ chơi ngoài trời, đồ
chơi trong lớp, thiết bị dạy học, đủ bếp ăn, nhà vệ sinh và công trình nước sạch
theo quy định.
Trong đó, quy định chính sách ưu tiên phát triển
giáo dục mầm non ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc
vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo,
bãi ngang, ven biển, khu đông dân cư, địa bàn có khu, cụm công nghiệp, khu chế
xuất, cụ thể:
Cơ
sở giáo dục mầm non công lập, cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang tại
xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển
và hải đảo theo quy định của cấp có thẩm quyền, có trẻ em từ 3 đến 5 tuổi học
và ăn, ngủ trưa tại cơ sở giáo dục mầm non (sau đây gọi là trẻ em bán trú) được
hưởng các chính sách sau:
-
Được hỗ trợ tiền để mua giấy, truyện tranh, sáp màu, bút chì, đồ chơi và các đồ
dùng, học liệu học tập khác; chăn, màn và các đồ dùng cá nhân cho trẻ em từ 3 đến
5 tuổi bán trú với mức kinh phí là 1.350.000 đồng/trẻ em/năm học.
-
Được hỗ trợ tiền điện, nước phục vụ học tập và sinh hoạt của trẻ em từ 3 đến 5
tuổi bán trú với định mức là 5KW điện/tháng/trẻ em và 01 m3 nước/tháng/trẻ
em theo giá quy định tại địa phương và được hưởng không quá 9 tháng/năm học.
Nơi chưa có điều kiện cung cấp các dịch vụ điện, nước hoặc bị mất điện, nước
thì nhà trường được sử dụng kinh phí để mua thiết bị thắp sáng và nước sạch cho
trẻ em.
-
Được hỗ trợ kinh phí trông trưa đối với trẻ em từ 3 đến 5 tuổi: Mỗi nhóm 25 trẻ
em từ 3 - 4 tuổi, trong đó ít nhất có 8 trẻ em từ 3 đến 4 tuổi bán trú thì được
hưởng 01 định mức; mỗi nhóm 30 trẻ em từ 4 - 5 tuổi, trong đó ít nhất có 10 trẻ
em từ 4 đến 5 tuổi bán trú thì được hưởng 01 định mức là 700.000 đồng/tháng/nhóm
trẻ em và được hưởng không quá 9 tháng/năm học. Số dư từ 50% trở lên so với số
trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và số trẻ em từ 3 đến 5 tuổi bán trú của mỗi nhóm thì được
tính 01 định mức.
-
Được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí chi trả cho nhân viên nấu ăn. Định mức
chi trả được tính trên số lượng trẻ em từ 3 đến 5 tuổi bán trú, tối thiểu bằng
3.900.000 đồng/01 tháng/45 trẻ em, số dư từ 20 trẻ em trở lên được tính thêm một
lần mức hỗ trợ. Mỗi cơ sở giáo dục mầm non được hưởng không quá 05 lần mức hỗ
trợ nêu trên/01 tháng và không quá 9 tháng/01 năm học.
Cơ
sở giáo dục mầm non độc lập, cơ sở giáo dục mầm non thuộc lực lượng vũ trang ở
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, bãi ngang, ven biển, khu đông dân cư,
địa bàn có khu, cụm công nghiệp, khu chế xuất thuộc loại hình dân lập, tư thục
đã được cấp có thẩm quyền cấp phép thành lập theo đúng quy định thực hiện nhiệm
vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3 đến 5 tuổi được hỗ trợ trang bị
cơ sở vật chất 01 lần, bao gồm: trang bị đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo
danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hỗ trợ kinh phí sửa chữa cơ sở
vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em. Mức
hỗ trợ tối thiểu là 50.000.000 đồng/cơ sở giáo dục mầm non độc lập.
Nghị
định cũng quy định rõ chính sách phát triển và hỗ trợ trẻ em. Cụ thể: Bảo đảm bố
trí đủ số lượng giáo viên mầm non mức tối đa theo định mức quy định.Bảo đảm chế
độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thực hiện
nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi trong cơ sở giáo dục
mầm non. Hỗ trợ tuyển dụng đối với giáo viên mầm non, trong đó đối tượng là: Giáo
viên mầm non được tuyển dụng mới từ năm học 2025 - 2026 theo quy định của pháp
luật, thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi,
cam kết công tác tại cơ sở giáo dục mầm non công lập được tuyển dụng ít nhất 05
năm. Giáo viên mầm non quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định này được hưởng
chính sách hỗ trợ tối thiểu 01 năm tiền lương cơ sở (hoặc mức tương đương khi
có thay đổi chính sách lương). Hỗ trợ đối tượng tham gia thực hiện phổ cập giáo
dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên
và nhân viên tại cơ sở giáo dục mầm non công lập tham gia thực hiện nhiệm vụ phổ
cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Các đối tượng quy định tại điểm
a khoản 4 Điều 5 Nghị định nàu được hưởng kinh phí hỗ trợ 960.000 đồng/tháng
(kinh phí hỗ trợ không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội).
Nghị
định cũng quy định cụ thể lộ trình đạt chuẩn, cụ thể: Đến 2028, có từ 50% các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương trở lên đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho
trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Đến 2030, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi.
Nghị
định quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh: Ban hành các văn bản, chính
sách, kế hoạch, lộ trình chỉ đạo triển khai, thực hiện phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi của tỉnh đạt mục tiêu theo yêu cầu. Đưa mục tiêu,
nhiệm vụ thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi vào các
văn kiện Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hằng năm và
giai đoạn. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện hỗ trợ, khuyến khích các
cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư xây dựng phát triển
giáo dục mầm non. Ưu tiên phát triển giáo dục mầm non ở vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên
giới, hải đảo, bãi ngang, ven biển, khu đông dân cư, địa bàn có khu, cụm công
nghiệp, khu chế xuất. Quy hoạch, đầu tư xây dựng bảo đảm đủ trường lớp, cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3
đến 5 tuổi. Xây dựng duy trì, nâng cấp, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi của địa phương kết nối với hệ thống
của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đăng ký đào tạo,
thu hút, tuyển dụng, bố trí đủ số lượng giáo viên mầm non theo định mức quy định
để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Triển khai đầy
đủ các chính sách đối với các cơ sở giáo dục mầm non, trẻ em tứ 3 đến 5 tuổi và
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cấp học mầm non các đối tượng được
hưởng chính sách theo Nghị định này. Bảo đảm kinh phí thực hiện đầy đủ các
chính sách quy định tại Nghị định này; cân đối nguồn lực tài chính cho thực hiện
chính sách tại địa phương theo đúng quy định của Luật
Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và
các văn bản hướng dẫn hiện hành. Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có khả năng cân đối ngân sách cao hơn mức chính sách quy định tại Nghị định
này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất, trình hội đồng nhân dân cùng cấp xem
xét, quyết định. Tổ chức kiểm tra, công nhận xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện các chính
sách tại địa phương theo quy định.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi trên địa bàn. Tuyên truyền,
vận động các tổ chức và cá nhân phối hợp với các cơ sở giáo dục mầm non trên địa
bàn huy động trẻ em ra lớp, thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3
đến 5 tuổi.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày
ký./.
Tường Vy